Thư viện không những là môi trường học tập rất lý tưởng mà nó còn là Trung tâm văn hoá. Để phát huy hiệu quả sử dụng thư viện một cách tốt nhất, tạo ra một môi trường học tập lành mạnh, đòi hỏi mỗi cán bộ, nhân viên thư viện và sinh viên cần phải xây dựng cho mình một tác phong văn hoá giao tiếp phù hợp và chuẩn mực.

Văn hoá giao tiếp và ứng xử là một phạm trù rất rộng gồm cử chỉ, lời nói, hành vi thể hiện và cả trang phục phù hợp. Đặc biệt là môi trường Thư viện, nơi diễn ra sự tiếp xúc thường xuyên giữa các thủ thư và độc giả nói chung thì điều đó càng thể hiện rõ nét.

Đối với cán bộ và nhân viên thư viện, ngoài những kiến thức và hiểu biết chuyên môn thì trang phục và tinh thần thái độ phục vụ góp phần thể hiện tính chuyên nghiệp và tăng cao hiệu quả trong công việc. Một cán bộ khi đối diện với sinh viên trong trang phục đứng đắn, gọn gàng, màu sắc trang nhã cùng với những cử chỉ nhẹ nhàng, hoà nhã sẽ được sinh viên chú ý hơn và tôn trọng hơn. Nếu bạn là thủ thư, bạn hãy luôn nở nụ cười khi tiếp chuyện với độc giả. Điều quan trọng hơn nữa là hãy kiên nhẫn với sinh viên vì không phải sinh viên nào cũng tuân thủ nội quy Thư viện ngay từ khi mới vào.

Độc giả đến thư viện, đối tượng giao tiếp là nhân viên thư viện và tài liệu. Thông qua giao tiếp với nhân viên thư viện, độc giả sẽ tiếp cận được những tài liệu mình cần. Nếu có gì còn vướng mắc hoặc chưa nắm rõ, sinh viên hoàn toàn có thể yêu cầu và có được sự trợ giúp từ phía nhân viên thư viện. Khi đó, các bạn sinh viên đừng ngại mở lời với các cô thủ thư, chẳng hạn:”Cô ơi (chị ơi), cháu (em) có thể mua phiếu mượn sách này ở đâu?” hay “Cô ơi, cho cháu có thể mượn những cuốn sách này trong bao lâu?”. Với những câu hỏi như vậy, chắc chắn bạn sẽ được hướng dẫn tận tình của cán bộ thư viện. Có đôi khi tôi bắt gặp một số bạn muốn xin tích kê để vào Phòng đọc mở nhưng chỉ đưa thẻ thư viện cho cán bộ quản thư mà không nói gì cả. Điều này thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với người thủ thư. Khi ấy, thay vì đứng yên, bạn hãy nói “Cô ơi, cho cháu xin tích kê ạ” thì sẽ hay hơn nhiều. Các bạn sinh viên đừng tiết kiệm lời nói nhé!

Cách xưng hô phù hợp cũng tạo nên sự thân thiện giữa thủ thư và các bạn sinh viên. Từ việc quan sát tuổi tác của nhân viên thư viện, các bạn sinh viên có thể có cách xưng hô phù hợp, đại loại như: “ Em ( hoặc cháu) có thể mượn cuốn sách này về nhà được không..?” hay “ Chị có thể bật điều hoà không khí lên một chút được không ?”. Các bạn không nên tự tiện di chuyển bàn, ghế hoặc sử dụng thiết bị khi không được phép của nhân viên quản lý. Trước khi sử dụng một dịch vụ nào đó của thư viện, hãy quan sát và xem có sự nhắc nhở hoặc cảnh báo mang tính nội quy nào đó xung quanh mình hay không. Cần tuân thủ nghiêm túc các biển cảnh báo như: “ không hút thuốc lá”, “không vứt rác bừa bãi”… Sách báo sau khi sử dụng, cần đặt đúng nơi quy định. Đặc biệt, các bạn sinh viên nên tránh hình ảnh không đẹp như: nằm lên bàn, ghế hoặc ngồi vắt chân lên bàn…

Việc mặc trang phục khi đến sử dụng thư viện cũng cần lưu ý, nam sinh viên không nên mặc quần cộc hoặc áo may ô ba lỗ và nữ sinh viên không nên có trang phục như bộ đồ ngủ, áo hai dây hoặc váy quá ngắn…

Phần lớn phòng đọc tại thư viện là các phòng tự học, vì vậy yếu tố yên tĩnh cần được triệt để tôn trọng. Khi đến và rời khỏi các phòng đọc, sinh viên cần giữ gìn trật tự yên lặng. Trong khi học nhóm, nếu cần trao đổi cần giữ âm lượng đủ nghe tránh ảnh hưởng đến người khác.

Các nội quy, quy định tại thư viện nhằm mục đích duy nhất là giữ gìn bảo quản thiết bị, tài liệu phục vụ tốt nhất cho chính các sinh viên. Do đó việc tự giác chấp hành các quy định đó cũng như rèn luyện tác phong, giao tiếp ứng xử đúng mức và phù hợp sẽ góp phần xây dựng thư viện thành một môi trường học tập và giải trí thực sự lành mạnh và bổ ích.

1.  Ấn phẩm (Publications)

Là tài liệu in ấn và điện tử được xuất bản và phổ biến rộng rãi đến người đọc. Ấn phẩm bao gồm nhiều loại tài liệu khác nhau như sách, tạp chí, hình ảnh, và nhiều loại tài liệu khác.

2.  Ấn phẩm định kỳ (Periodicals)

Là tài liệu được xuất bản theo định kỳ như báo, tạp chí, và bản tin. Các loại tài liệu này được xuất bản theo tuần, tháng, quý, năm...

3.  AV: Audio-Visual (materials): Ký hiệu Tài liệu Nghe nhìn

4.  Bách khoa toàn thư = Encyclopedias

Bách khoa toàn thư trình bày dưới dạng các bài viết ngắn hiện trạng tri thức của nhân loại về tất cả các lĩnh vực hoặc về một chủ đề nào đó, các chủ đề được biên tập và sắp xếp theo vần chữ cái. Bách khoa toàn thư có thể ở dạng phổ thông, đa ngành hoặc chuyên ngành. Hầu hết các bách khoa toàn thư đều dễ hiểu và dễ tra cứu theo an pha bê.

5.  Bài báo/Bài viết (Articles)

Là một bài luận ngắn hoặc bài báo cáo nghiên cứu về một chủ đề nào đó. Bài báo có thể xuất hiện trong các tạp chí thông thường, tạp chí học thuật, báo, cơ sở dữ liệu toàn văn hoặc các nguồn khác như bách khoa toàn thư.

6.  Bản quyền (Copyright)

Là sự bảo vệ về mặt pháp luật đối với tác phẩm của một tác giả nào đó nhằm bảo vệ tác phẩm không bị sao chép bất hợp pháp, không có bản quyền. Tất cả sinh viên, giảng viên và nhà nghiên cứu đều phải nghiêm ngặt tuân theo Luật Bản quyền.

7.  Báo (Newspapers)

Là loại tài liệu xuất bản định kỳ và phục vụ cho tất cả các đối tượng thay vì cho các nhóm học giả chuyên ngành. Ví dụ như báo Phụ nữ, Thời báo Kinh tế Sài gòn, v.v.

8.  Chủ đề (Subjects)

Chủ đề phản ánh nội dung của tài liệu, giúp bạn đọc có thể tra cứu tài liệu theo các vấn đề được quan tâm. Chủ đề được sử dụng bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Bạn đọc có thể tra cứu theo chủ đề trên trang OPAC hay qua các công cụ tìm tin khác trên Internet và các cơ sở dữ liệu.

9.  Cơ sở dữ liệu (Databases)

Là bộ sưu tập các dữ liệu tài liệu chuyên ngành được lưu trữ trên máy tính điện tử theo một cơ chế thống nhất, được quản lý bởi hệ thống các phần mềm gồm các chương trình giúp người sử dụng quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu hiệu quả. Cơ sở dữ liệu còn cung cấp tóm tắt và toàn văn của bài viết. Có các khái niệm khác được dùng như: Cơ sở dữ liệu toàn văn, cơ sở dữ liệu trực tuyến, cơ sở dữ liệu thư mục, cơ sở dữ liệu tạp chí, v.v.

10.  Dịch vụ tham khảo ( Reference services)

Là dịch vụ miễn phí của TTHL. Bạn đọc được hướng dẫn sử dụng các dịch vụ về cách tra cứu và tìm tài liệu, giải đáp các thắc mắc liên quan đến thư viện, hỗ trợ kỹ thuật, khi bạn đọc gặp sự cố trong quá trình sử dụng máy tính trong TTHL tại quầy Dịch vụ Tham khảo. Bạn đọc có thể liên hệ cán bộ tại quầy Tham khảo để được tư vấn trực tiếp, gửi email hoặc gọi điện khi có nhu cầu.

11. DDC = Dewey Decimal Classification

Hệ thống phân lọai thập phân Dewey là một công cụ dùng để sắp xếp cho có hệ thống các tri thức của nhân loại.

12.  DIG: Digital (materials): Ký hiệu dùng chỉ Tài liệu số (có bi màu tím trên gáy sách), là bộ sưu tập gồm giáo trình, tài liệu tham khảo ở dạng in ấn được xử lý và chuyển đổi sang dữ liệu được lưu trữ trên máy tính phục vụ sinh viên theo môn học tín chỉ.

13.  Đạo văn (Plagiarism)

Là bài viết hay công trình nghiên cứu của người khác bị sao chép và hiển nhiên xem như của mình mà không trích dẫn và ghi rõ nguồn tham khảo. Đạo văn là một hành động vi phạm Luật bản quyền khá nghiêm trọng.

14.  Facebook & Twitter TTHL

Là 2 ứng dụng của Web 2.0 được sử dụng để thông tin về những tin tức mới. Bạn đọc có thể thêm danh sách bạn bè của mình để theo dõi các tin tức mới của bạn bè.

15.  FAQs = Frequently Ask Questions

Các câu hỏi thường gặp.

16.  Gia hạn tài liệu (Renewing)

Khi tài liệu đang mượn hết hạn sử dụng, nhưng có nhu cầu tiếp tục sử dụng, bạn đọc được quyền gia hạn thêm thời gian mượn. Có thể gia hạn trực tiếp với cán bộ.

17.  Học viên cao học (Postgraduates)

Là sinh viên đã hoàn thành chương trình Đại học và tiếp tục học Sau đại học hoặc Thạc sĩ.

18.  ISBN = International Standard Book Number

Là một chỉ số tiêu chuẩn quốc tế mang tính thương mại, được gán cho mỗi quyển sách trong khuôn khổ của một hệ thống thông tin, bao gồm một tập hợp 10 chữ số được chia thành bốn nhóm, cách nhau bằng dấu gạch ngang.

19.  ISSN = International Standard Serial Number

Là chỉ số tiêu chuẩn quốc tế mang tính chất thương mại, được gán cho các ấn phẩm định kỳ hay tạp chí, bao gồm 8 chữ số được chia thành 2 nhóm, cách nhau bằng dấu gạch ngang.

20.  Kỹ năng thông tin/Kỹ năng tìm kiếm thông tin (Information literacy)

Là khả năng nhận biết được nhu cầu thông tin của bản thân, cũng như khả năng tìm kiếm, định vị, đánh giá và sử dụng hiệu quả thông tin tìm được (ALA, 1989).

21.  Luận án Thạc sĩ/Tiến sĩ (Thesis/ Dissertations)

Bài nghiên cứu hoàn chỉnh của học viên Cao học và Nghiên cứu sinh.

22.  Luận văn sinh viên (Thesis/ Dissertations)

Bài nghiên cứu hoàn chỉnh của sinh viên Đại học.

23.  Mobile web

Là phiên bản website di động. Bạn đọc có thể truy cập trang web qua các điện thoại thông minh (smart phones) hay các loại điện thoại và thiết bị điện tử khác có tính năng truy cập Internet.

 

24.  MOL = Monographs for lending: Tài liệu chuyên ngành cho phép mượn về nhà.

25.  MON = Monographs: Tài liệu đọc tham khảo(tài liệu có bi đỏ - không được mượn về nhà)

26.  Mục lục tài liệu tham khảo (Bibliography)

Là một nhóm các thông tin về tài liệu được trích dẫn và được người viết tham khảo khi nghiên cứu về một chủ đề nào đó. Tất cả thông tin về tài liệu được trích dẫn được tập hợp lại, sắp xếp an-pha-bê theo tên tác giả và đặt ở cuối một bài nghiên cứu, sách, hay một số dạng bài viết khác. Mục lục tài liệu tham khảo rất hữu ích trong việc giúp bạn đọc định vị các nguồn tài liệu theo một chủ đề nào đó.

27.  Nhan đề (Title)

Là tựa đề của một tài liệu.

28.  OPAC

OPAC = Online Public Access Catalogue: Cơ sở dữ liệu thư mục tài liệu trực tuyến.

29.  Quầy Lưu hành (Circulation desk)

Là nơi bạn đọc liên hệ mượn – trả và gia hạn tài liệu.

30.  Peer reviewed journals/Refereed journals

Là tạp chí hay các bài viết trong các tạp chí đã được các chuyên gia có cùng chuyên ngành đánh giá và phê duyệt trước khi cho xuất bản. Vì vậy, đây là nguồn tham khảo rất đáng tin cậy phục vụ cho nghiên cứu. Bạn đọc có thể tìm loại tạp chí này trong các cơ sở dữ liệu.

31.  REF: Reference (materials): Kí hiệu dùng chỉ Tài liệu tham khảo

32.  RSS

RSS = Really Simple Syndication = Rich Site Summary: Hệ thống lấy thông tin nhanh tự động từ các trang web yêu thích và các trang blog. Người dùng phải đăng ký nhận tin bằng cách click chọn biểu tượng RSS trên các trang web có biểu tượng này.

33.  Số (Issue)

Là số xuất bản nằm trong Tập (Volume) của một tạp chí. Một Tập thường bao gồm nhiều số. Một số thường bao gồm nhiều bài viết với số trang tăng dần và được ngắt theo bài viết.

34.  Số đăng ký cá biệt (Barcode)

Là nhãn bao gồm một dãy sọc bên trên, chữ và số bên dưới và được dán ở bìa trước của tài liệu. Cán bộ thư viện quét barcode trên tài liệu bằng máy quét kết nối với máy tính và phần mềm trước khi cho bạn đọc mượn tài liệu.

35.  Số phân loại/Phân loại (DDC/Dewey number/Call number)

Là ký hiệu số dùng để phân chia một cách khoa học các tài liệu theo các môn loại khoa học nhất định phù hợp với nội dung của tài liệu và được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Số phân loại tại TTHL được in trên nhãn và dán trên gáy tài liệu (hay trên lưng tài liệu).

36.  Tài liệu chuyên khảo/Tài liệu chuyên ngành (Monographs)

Sách, giáo trình được sắp xếp theo lĩnh vực chuyên ngành. Mỗi tài liệu đều được dán số phân loại để giúp bạn đọc dễ tìm kiếm tài liệu. Bạn đọc tra cứu tài liệu trên OPAC, xem hiện trạng tài liệu và ghi lại số phân loại, sau đó đến kệ tìm tài liệu.

37.  Tài liệu đã thanh lý (Weeding materials)

Tài liệu lạc hậu về nội dung, thừa bản, bị hư hỏng không thể phục hồi, bị mất trong quá trình phục vụ sẽ tiến hành thanh lý.

38.  Tài liệu điện tử (Electronic materials)

Là tài liệu bạn đọc có thể xem trực tuyến qua mạng, lưu, in, tải, chia sẻ qua email các file điện tử ở nhiều định dạng khác nhau như file word, html, powerpoint, pdf, file âm thanh, hình ảnh, flash, v.v.

39.  Tài liệu học phần (Course reading materials)

Là tài liệu được chọn lọc theo từng học phần của sinh viên.

40.  Tài liệu in ấn (Printed materials)

Là tất cả các nguồn tài liệu của TTHL được in trên giấy, bao gồm sách, báo-tạp chí, từ điển, giáo trình, sách tặng của các tổ chức, v.v.

41.  Tài liệu số (Digital collections)

Bộ sưu tập số là một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu đã được số hóa dưới nhiều hình thức khác nhau (như văn bản, hình ảnh, audio, video…) về một chủ đề nào đó và được lưu trữ dưới dạng số. Mặc dù mỗi loại hình tài liệu có sự khác nhau về cách thể hiện,  nhưng nó đều  cung cấp một giao diện đồng nhất mà qua đó các tài liệu có thể được truy cập, tìm kiếm dễ dàng.

42.  Tài liệu tham khảo (Reference collection)

Tài liệu tham khảo phục vụ cho mục đích tra cứu, bao gồm từ điển, bách khoa toàn thư, atlas, niên giám thống kê, sổ tay, dược thư, v.v. Tài liệu tham khảo được đọc tại chỗ.

43.  Tạp chí (Journals)

Tạp chí là một ấn phẩm định kỳ (hay tài liệu được xuất bản theo định kỳ gồm các bài nghiên cứu khoa học có mục lục tài liệu tham khảo đính kèm). Có hai dạng tạp chí là tạp chí in ấn (printed journals) và tạp chí điện tử (e-journals).

44.  Tạp chí đóng bộ (Bound journals)

Là bộ sưu tập tạp chí được xếp theo thứ tự số phát hành và đóng nhiều số liên tục thành 1 cuốn. Bạn đọc có thể tham thảo tạp chí đóng bộ tại các kệ sách tầng 3, TTHL. Các tạp chí mới được trưng bày trên kệ trưng bày tại khu vực Báo-tạp chí.

45.  Tạp chí học thuật (Scholarly journals/Academic journals)

Là tạp chí bao gồm các bài viết, bài nghiên cứu được viết bởi các nhà nghiên cứu học thuật cho một trường đại học hoặc các cộng đồng nghiên cứu. Nội dung của các tạp chí này rất khác với các tạp chí thông thường vì đây là các tạp chí mang tính học thuật cao. Tạp chí có thể được xuất bản bởi một trường đại học, một nhóm học giả hay các nhà xuất bản học thuật.

46.  Tập (Volume)

Là một phần của tạp chí hoặc sách nhiều tập. Mỗi tập của tạp chí có nhiều số được xuất bản trong một năm. Số tập gia tăng theo năm.

47.  Thanh công cụ (LRC Toolbar)

Thanh công cụ cho phép bạn đọc tải về và cài lên toolbar của các trình duyệt máy tính (như Internet Explorer hay Firefox) nhằm hỗ trợ bạn đọc truy cập nhanh đến các nội dung quan trọng của TTHL như Tìm tài liệu in ấn (OPAC), Cơ sở dữ liệu, Tài liệu số, Thông tin tài liệu theo chủ đề, ChatOnline, download các biểu mẫu, v.v.

48.  THE: Thesis: Ký hiệu dùng chỉ Luận văn, luận án

49.  Thông tin tài liệu theo chủ đề (Subject Guide/LibGuide)

Bao gồm các hướng dẫn và thông tin về tài liệu cho từng chuyên ngành đào tạo tại trường và một số chủ đề liên quan khác. Bảng thông tin giới thiệu các loại tài liệu in ấn như sách, báo - tạp chí, tài liệu hướng dẫn nghiên cứu và các loại tài liệu điện tử như tạp chí, cơ sở dữ liệu, website, tài liệu tra cứu,..liên quan đến lĩnh vực học tập, nghiên cứu của bạn đọc và các hướng dẫn tìm kiếm thông tin.

50.  Thư mục tài liệu (Catalogue = Bibliography)

Là bản liệt kê đầy đủ hay có chọn lọc các tài liệu về một chủ đề nào đó hay liệt kê định kỳ các tài liệu mới gồm thông tin đặc trưng bên ngoài của tài liệu như: tác giả, tên tài liệu, nguồn gốc và dạng tài liệu, ngôn ngữ, các yếu tố xuất bản, v.v. OPAC chính là cơ sở dữ liệu thư mục trực tuyến.

51.  Tóm tắt (Abstract)

Là một công đoạn mô tả nội dung tài liệu được cô đọng bằng một đoạn viết ngắn thể hiện bằng ngôn ngữ tự nhiên.

52.  Toàn văn (Full text)

Bài viết hoàn chỉnh hay toàn bộ nội dung của một bài viết, bài báo cáo nghiên cứu.

53.  Từ khóa (Keyword)

Từ khóa của tài liệu là các cụm từ đủ nghĩa và ổn định, thể hiện những khái niệm quan trọng nhất của nội dung tài liệu. Tập hợp từ khóa của một tài liệu phản ánh đầy đủ và cô đọng những thông tin cơ bản về nội dung tài liệu. Bạn đọc có thể xác định từ khóa quan trọng về nội dung tài liệu cần tìm trước khi thực hiện việc tìm tài liệu phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu của mình.

54.  Từ khóa kiểm soát (Thesaurus)

Là từ khóa kiểm soát theo quy định hay bộ sưu tập các từ đồng nghĩa, các từ quan hệ, các thuật ngữ hẹp, các thuật ngữ rộng mang nghĩa.

55.  Tra cứu (Searching)

Đây là thuật ngữ dùng thay thế cho thuật ngữ Tìm kiếm (thông tin).

56.  Trích dẫn tài liệu (Citation)

Đó là thông tin về tác giả, năm xuất bản, tựa đề, số trang cho một các loại tài liệu được tham khảo trong quá trình viết bài nghiên cứu, như sách, các chương của sách, bài viết từ các tạp chí, website, v.v. Trích dẫn tài liệu còn gọi là tham khảo tài liệu và được sắp xếp thành một bảng liệt kê theo an pha bê ở cuối bài viết hay bài nghiên cứu. Kiểu trích dẫn tham khảo sẽ khác nhau theo lĩnh vực nghiên cứu.

57.  WB: World Bank (materials): Ký hiệu dùng chỉ Tài liệu của Ngân hàng Thế giới

58.  Web 2.0

Là các trang web thuộc thế hệ web thứ hai cho phép người dùng tự tạo trang, tự sáng tác bài viết ở nhiều định dạng khác nhau và tải lên trang web, chia sẻ, bình luận, v.v. Web 2.0 bao gồm Facebook, Twitter, Blogs, YouTube, Flickr, Bookmarking sites, IM, wikis, v.v.

59.  Zotero

Là phần mềm miễn phí và dễ sử dụng, hỗ trợ bạn đọc trong việc xây dựng, tổ chức, quản lý các nguồn tài liệu đã trích dẫn và chia sẻ nguồn tài liệu nghiên cứu. Đây là công cụ rất hữu ích hỗ trợ quá trình tạo lập Mục lục tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu khi bạn đọc thực hiện nghiên cứu. Bạn đọc có thể download Zotero theo địa chỉ http://www.zotero.org/ và cài lên máy tính hoặc thực hiện add-on vào trình duyệt Firefox.

Thư viện đại học là nơi cung cấp nguồn thông tin quan trọng nhất trong nhà trường

Sinh viên trong các trường Đại học có thể tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau: từ các giảng viên, từ các cuộc thảo luận, hội thảo khoa học, từ các cơ sở thực nghiệm, từ thực tiễn xã hội và từ thư viện. Trong những nguồn thông tin ấy, thông tin từ thư viện sẽ là quan trọng nhất, đầy đủ, toàn diện, phong phú và đa dạng nhất. Vì đó là những thông tin đã được sàng lọc qua nhiều khâu, hầu hết có cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học, được tích luỹ lâu dài và được kiểm nghiệm qua thực tiễn; là nguồn thông tin phù hợp với nhu cầu và thói quen sử dụng của sinh viên.

Thư viện đại học là điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên

Sinh viên trong các trường Đại học hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức mang tính thời đại. Xã hội thông tin đang sản xuất ra một khối lượng thông tin lớn với một tốc độ rất nhanh. Hiện tượng bùng nổ thông tin này đang làm nảy sinh 3 vấn đề: sự khủng hoảng các vật mang tin, hiện tượng phân tán thông tin và tốc độ lạc hậu nhanh chóng của thông tin. Việc tiếp cận, khai thác và sở hữu thông tin của sinh viên ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém. Mặt khác, sinh viên trong xã hội thông tin lại hoàn toàn bị lệ thuộc vào thông tin. Thông tin đối với sinh viên không còn chỉ để biết mà còn là điều kiện để tồn tại. Khối lượng, phạm vi và chất lượng của nhu cầu tin trong sinh viên cũng gia tăng nhanh chóng. Các thư viện đại học phải trở thành điểm kết nối giữa nhu cầu tin, nguồn tin của xã hội, phải trở thành chiếc cầu nối liền khoảng cách ngày càng được nới rộng giữa nguồn thông tin và nhu cầu thông tin của sinh viên. Để xóa bỏ khoảng cách này, thư viện phải trở thành nơi chọn lọc, tinh chế, bao gói thông tin; thư viện phải là nơi phát hiện, xác định và kiến tạo nhu cầu thông tin của sinh viên. Để từ đó thư viện mới có thể trình bày, giới thiệu và cung ứng thông tin mang tính định hướng cá nhân.

Thư viện đại học là môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập trong việc khám phá và tư suy sáng tạo của sinh viên

Việc tiếp cận, chiếm hữu và sở hữu tri thức chỉ thật sự có hiệu quả trên tính tự giác của sinh viên. Việc tiếp cận và chiếm hữu những kiến thức đã có là việc học về quá khứ; việc tìm tòi, khám phá những cái chưa có mới thật sự là việc học cho tương lai. Không có một người thầy nào, không có một ngôi trường nào có thể song hành suốt đời với sinh viên. Sinh viên vì thế phải học cách tự tồn tại, tự khám phá ngay ở trên ghế nhà trường. Thư viện đại học mở ra một môi trường tri thức rộng lớn, thông thoáng và đa dạng để sinh viên “thỏa sức” mở rộng tầm nhìn và ước mơ của mình. Ở nơi đó, bài giảng của thầy chỉ còn là những “cọc tiêu” để sinh viên định hướng, xác định mục tiêu của công cuộc khám phá. Việc lựa chọn, đồng hóa những kiến thức tùy thuộc hoàn toàn vào ý muốn của sinh viên. Thư viện phải trở thành “thao trường” cần thiết để sinh viên từng bước tập dượt trên con đường trở thành người có ích, có năng lực và trên con đường chinh phục đỉnh cao trí tuệ sau này.

Thư viện đại học có thể góp phần cải tiến nội dung chương trình giảng dạy

Sách giáo khoa và giáo trình chỉ là các khung cơ bản của nội dung chương trình đào tạo, tài liệu phong phú đa dạng trong thư viện mới thật sự đóng góp cho những tư duy, tri thức được đặt thành vấn đề để đem ra nghiên cứu thảo luận, so sánh, phê bình, đánh giá; để đem đến một nhận định riêng cho người học. Và như vậy, thư viện đại học đương nhiên đã làm thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập ở trường đại học.

Thay vì thầy lên lớp thuyết trình hàng loạt kiến thức, học trò lắng nghe, ghi chép, cố nhớ, lập lại và chứng tỏ cái nhớ, hiểu của mình qua các kỳ thi, thì ở đây người thầy trong lớp học chỉ nêu vấn đề mà học trò cần tìm hiểu và chỉ ra những nguồn tài liệu mà sinh viên có thể dùng để nghiên cứu tham khảo. Sinh viên phải tự đến thư viện tìm tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, thảo luận. Thư viện có đầy đủ sách báo, tài liệu điện tử, vv... về mọi lĩnh vực tri thức trong chương trình đào tạo của nhà trường. Những điều sinh viên phát kiến, tìm tòi được sẽ khắc sâu vào tâm trí của sinh viên, vì đó là những điều họ tự tìm ra chứ không phải là những điều mà họ phải cố nhớ. Qua đó, sinh viên sẽ tự rèn luyện cho mình một phương pháp học tập, một phương pháp khảo sát vấn đề. Và đấy cũng là hình ảnh sống động của lớp học theo tín chỉ mà sự đóng góp của thư viện đại học cho lớp học này là không thể chối bỏ được.